Điệp Mỹ Linh đừng cứa thêm vào vết thương đã lành

Hoàng Thanh Minh

Đã 26 năm qua, Hoa Kỳ và Việt Nam đã trở thành đối tác đáng tin cậy, tình hữu nghị dựa trên nền tảng tôn trọng lẫn nhau. Hoa Kỳ – Việt Nam có mối quan hệ hợp tác ngày càng tích cực và toàn diện, đã phát triển thành quan hệ đối tác vững chắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh và giao lưu nhân dân giữa hai nước. Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập, góp phần đảm bảo an ninh quốc tế; tham gia các quan hệ thương mại hai bên cùng có lợi và tôn trọng nhân quyền và pháp quyền. Mối quan hệ song phương được định hướng bởi quan hệ Đối tác Toàn diện Hoa Kỳ- Việt Nam được ký kết năm 2013. Trong chuyến thăm Việt Nam vào cuối tháng 7 vừa qua, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Austin khi gặp các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đã “đề nghị hai bên nghiên cứu, nâng cấp quan hệ lên tầm “đối tác chiến lược”.

 Nói như lãnh đạo và nhân dân hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ “Chúng ta đã khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Những gì diễn ra trong 26 năm qua về mối quan hệ giữa hai nước đã nói lên tất cả điều đó. Thế nhưng, cho đến hôm nay vẫn có những kẻ cố tình khơi lại qua khứ đau thương của “cuộc chiến tranh Việt Nam” dù nó đã trôi qua 46 năm, nhằm “thanh minh” cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ và cũng nhằm “chiêu tuyết” cho cái thây ma Việt Nam Cộng hòa, nhằm mục đích kích động mối quan hệ đối ngoại giữa hai nước và bôi nhọ chế độ nhà nước ta hiện nay.

Nhân những biến động tại Afghanistan buộc Mỹ phải rút quân khỏi nước này, Điệp Mỹ Linh đã có bài viết đăng tải trên mạng xã hội với tiêu đề: “Người lính Mỹ” nhằm những mục đích trên.

Điệp Mỹ Linh viết: “Từ khi tôi được sinh ra cho đến bây giờ, biết bao nhiêu ngàn lính Mỹ đã “rơi” vào tình cảnh bơ vơ, lạc lõng sau mỗi trận chiến – nếu họ may mắn còn sống? Biết bao nhiêu ngàn lính Mỹ bị tàn tật? Biết bao nhiêu ngàn lính Mỹ đã bị “mất xác”? Và rằng “tôi đã thấy và cảm nhận được sự hy sinh cũng như nỗi đau trong lòng người lính Mỹ khi phải xa quê hương để dấn thân vào cuộc chiến mà chính họ không hiểu được lý do!”.

Bà nói cũng không sai, đã có tới hơn 58 nghìn người lính Mỹ đã chết trận, theo số liệu của Mỹ và những hệ lụy khác không thể tính được. Và cũng có thể có nhiều người lính Mỹ đã phải “xa quê hương để dấn thân vào cuộc chiến mà chính họ không hiểu được lý do!” nhưng chính quyền Mỹ qua nhiều thời kỳ thì biết rất rõ họ đang làm gì và mục đích của nó. Năm 1954, đội bán quân sự của Mỹ do Edward Lansdale chỉ huy đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến để khuyến khích dân chúng miền Bắc di cư vào Nam; chọn và gửi một số người Việt tới các căn cứ quân sự của Mỹ ở Thái Bình Dương để huấn luyện; huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam (sau là Việt Nam cộng hòa); xây dựng các hạ tầng phục vụ quân sự tại Philippines; bí mật đem một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; phát triển các kế hoạch “bình định Việt cộng và các vùng chống đối”. Đầu những năm 60 của thế kỷ 20, trước tình huống thế và lực của chính quyền Sài Gòn suy yếu đến mức không có cơ cứu vãn. Mỹ đã chính thức vào cuộc, không vừa lòng với vai trò “giật dây sau cánh gà “cùng các khoản viện trợ, họ công khai lộ diện, trực tiếp có mặt tại Việt Nam, từ các đoàn cố vấn đến một đội quân viễn chinh. Càng leo thang chiến tranh càng sa lầy, vì thế như là hành động “đâm lao phải theo lao”, chính quyền Mỹ đã phải dùng mọi thủ đoạn, tiến hành mọi sách lược, huy động mọi khả năng tài chính và quân sự lúc bấy giờ nhằm đạt mục đích. Chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, các cuộc tiến công sang Lào, Căm pu Chia; rồi huy động phần lớn lực lượng không quân để ném bom hủy diệt miền Bắc, bao vây và phong tỏa các cửa biển … nhiều trăm tỷ USD được dùng cho viện trợ và chi phí chiến tranh. Hơn 2 triệu lính Mỹ thay nhau có mặt tại Việt Nam, lúc cao nhất đạt tới hơn nửa triệu quân, hơn 8 triệu tấn bom đã sử dụng, gần 80 triệu lít chất độc hóa học đã trút lên đầu những người dân Việt Nam vô tội… Nhưng tất cả đã không cứu được chính quyền Mỹ tránh khỏi một thất bại và Hiệp định Paris ký kết năm 1973 là bằng chứng, chứng minh nước Mỹ đã thất bại. Cuộc xâm lăng ấy đã trở thành “một chương bi thảm” trong lịch sử nước Mỹ.

Trong cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ”, hai tác giả J.C.Rove và RBerg viết: “Trên 70% dân chúng (Mỹ) vẫn coi cuộc chiến “căn bản là sai lầm và phi đạo đức, chứ không chỉ là “một lỗi lầm”… và “nói ngắn gọn, ở đó Mỹ đã tiến tới làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương”. Cố giáo sư Trần Ngọc Chung – cựu sỹ quan Việt Nam Cộng hòa, đã định cư tại Mỹ sau sự kiện 30/4/1975 cũng đã thẳng thắn chỉ ra “Ngày nay, lịch sử đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng của Thực dân Pháp toan tính tái lập nên đô hộ lên đầu dân Việt nam, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của Mỹ… Còn cuộc chiến trận Hiệp định Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ. Mỹ xâm lăng vì cái thuyết Đômino sai lầm…Đây là kết luận của các học giả phương Tây, xét theo những sự kiện lịch sử không theo cảm tính phe phái”.

Dù có thể có ý kiến khác nhau đánh giá về mỗi cuộc chiến tranh, nhưng người ta không thể lẩn tránh được vấn đề then chốt là phải xem xét mục đích và tính chất chính nghĩa hay phi nghĩa của nó. Tảng lờ mục đích của chiến tranh, dùng chiến tranh để biện hộ cho chiến tranh, dùng những chất “hào hùng và bi thảm” như bà Mỹ Linh mô tả là sự ngụy biện không thể chấp nhận được trong tư duy ở thời hiện đại. Khi mà các mối liên hệ quốc tế đã đạt tới tầm mức mà sự ràng buộc lẫn nhau đã đặt mỗi quốc gia trước yêu cầu tỉnh táo đưa ra một quyết định bạo lực, thì các cuộc chiến tranh trong quá khứ vẫn để lại những bài học cần thiết.

Yêu hòa bình và từng chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh xâm lược, chúng ta hiểu rõ hơn ai hết cái giá phải trả bằng máu và nước mắt để có được độc lập, tự do. Trong những năm tháng này, dù không quên đi quá khứ và đau thương, song để hòa nhập và phát triển, chúng ta đã chủ trương “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Mà nói như Tổng thống Mỹ Bill Clinton khi sang thăm Việt Nam đã nhắc lại một câu Kiều của thi hào Nguyễn Du “Sen tàn cúc lại nở hoa!”.

Điệp Mỹ Linh hãy chớ vì những hận thù, bức xúc cá nhân để cố tình cứa vào vết thương cũ đã lành, đừng lợi dụng mà công kích nữa.